Đạo diễn Vương Đức Cỏ lau sắc xanh đầu đời

Cảm giác khoái chí cực điểm ùa đến trong vòng vài đêm khiến tôi mất ngủ. Nhờ Cỏ lau tôi có vị trí mới mẻ, được lên lương mấy bậc, được lên chức trưởng xưởng phim.
Tôi rất yêu Cỏ lau – bộ phim truyện đầu tay của mình, không chỉ bởi những giải thưởng đã giành được (Ngọn đuốc vàng – Liên hoan phim các nước không liên kết – Bình Nhưỡng – Triều Tiên 1993, Giải nhất Bộ Quốc phòng trao cho phim về đề tài lực lượng vũ trang, Giải B – Hội Điện ảnh Việt Nam 1994…) khiến tôi từ một người vô danh phải làm đủ việc để kiếm ăn qua ngày trở thành đạo diễn được mọi người biết đến; mà còn nhiều lý do sâu sắc khác… Có thể những giải thưởng ấy Ban giám khảo dành cho những chiến sĩ đã ngã xuống, cho tư tưởng của nhà văn Nguyễn Minh Châu, còn dành cho nghề của tôi thì ít thôi, vì đó là phim đầu tay – nó rất trong sáng hồn nhiên. Có thể không bằng những phim sau này, nó giản dị, thậm chí ngộ nghĩnh, nhưng đó là suy nghĩ đằm đắm của tuổi trẻ”.
Tôi chọn cỏ lau để được làm phim
Thời điểm làm phim Cỏ lau rất đặc biệt. Sau khi tôi đi làm phó đạo diễn phim Không có đường chân trời (dựa theo truyện ngắn Trại bảy chú lùn của nhà văn Bảo Ninh) – bộ phim cuối cùng được Nhà nước bao cấp, chỉ tài trợ sản xuất phim. Tôi nghe phong thanh Cỏ lau được nhà nước tài trợ, nên sẽ được sản xuất. Thời kỳ ấy đang rộ lên phong trào làm phim thị trường. Tôi cũng mang kịch bản Tháng con khỉ theo lịch mặt trăng (2 tập, của nhà văn – nhà báo Nga làm việc lâu nhất ở Việt Nam, Tổng biên tập Báo ảnh Việt Nam bằng tiếng Nga Andrey Levil – tác giả m mưu Hội Tam hoàng, Bí mật thành phố cấm…) nhưng các nhà sản xuất trong Sài Gòn không hào hứng. Tôi nghĩ Cỏ lau sẽ được nhà nước đưa vào sản xuất vì truyện đề cập tới phận người lính. Hồi ấy, tôi chưa đọc tác phẩm của Nguyễn Minh Châu nhiều, nên chưa đánh giá được văn phong ông, mà chỉ mong muốn được làm phim trong thời điểm éo le ấy. Kịch bản được đánh giá cao, và đưa vào diện tài trợ sản xuất (nhà nước bao cấp 80%). Không chỉ mình tôi, cả Hãng phim truyện Việt Nam cũng lo lắng vì đây là phim đầu tay của tôi và cũng là của nhà quay phim trẻ Bùi Trung hải (học cùng trường Đại học Điện ảnh Liên Xô – VGIK). Tôi chỉ bị Cỏ lau thu hút mạnh mẽ từ khi đi chọn cảnh ở Quảng Trị - nơi Nguyễn Minh Châu sống, viết thời chiến tranh. Không ngờ mảnh đất cằn cỗi, túi đựng đạn bom này lại nhiều cỏ lau! Cỏ lau mọc tràn núi đồi. Mảnh đất bị thiên tai hoành hành 4 mùa này có quá nhiều nghĩa trang. Huyện nào cũng có nghĩa. Nghĩa trang huyện cũng ken dầy tới trên dưới 10.000 ngôi mộ. Những buổi chiều ngồi ở nghĩa trang rợn ngợp màu trắng các nấm mồ, tôi luôn có cảm giác lạnh gáy, sởn gai óc, sợ hãi sự khủng khiếp của chiến tranh. Tôi không qua chiến tranh. Những gì tôi biết về chiến tranh là xem phim Liên Xô (cũ), Việt Nam. Chỉ khi ngồi trước bạt ngàn ngôi mộ, tôi mới rùng mình thấm thía sự khốc liệt của chiến tranh ở Việt Nam. Sau này được nghe anh Xuân Đức (Giám đốc Sở Văn hóa thể thao Quảng Trị), Xuân Đàm (Trưởng đoàn kịch Quảng Trị), nhà văn Nguyễn Quang Lập (tạp chí Cửa Việt), nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường – những con người gắn bó máu thịt với mảnh đất này kể về chiến tranh ở Quảng Trị, tôi mới biết là trong tôi mới hình thành sự quyết tâm. Phim Cỏ lau mới chỉ xới một phần rất nhỏ trong đề tài chiến tranh Việt Nam. “Đôi khi người đang sống rất dễ lãng quên người đã chết. Sự lãng quên ấy như cỏ lau gặp mảnh đất có cốt nhục liệt sĩ chúng ta cũng như có cả xương máu đối phương sẽ mọc mạnh hơn”. Phim Cỏ lau là chuyện hai người lính: người còn sống thì mất vợ, người hy sinh thì mất tích chưa tìm thấy… Tôi chưa từng mặc áo lính, nhưng đó chưa là thử thách lớn nhất khi làm phim này vì toàn bộ cảnh chiến trận chỉ có 2,5 phút diễn ra ở chốt điểm thành cổ Quảng Trị khi quân ta bị dính pháo phải rút lui. Tôi xác định đây không phải là phim miêu tả chiến trận, mà là tâm tình của người sau cuộc chiến, nên không phải là thách thức lớn. Tôi miêu tả chiến trận bằng cảm giác của người chưa bao giờ lâm chiến, bằng thủ pháp điện ảnh, kỹ thuật như: mưa, khói, giao thông hào – những điều đã học trong phim chiến tranh Liên Xô (cũ). Khi làm phim, tôi chưa ý thức sâu sắc về tâm linh liệt sĩ. Nhưng trong quá trình làm có nhiều điều khiến tôi phải chú ý. Lúc bấm máy, chúng tôi đều đến nghĩa trang Trường Sơn thắp hương và cầu khiến anh em liệt sĩ phù hộ.
Những kỷ niệm không quên
Hoàn thành phim thì trong đoàn có một đôi nên vợ nên chồng. Đó là kỷ niệm vui. Nhưng điều đáng nhớ nhất và cũng là điều khiến tôi áy náy nhất là chuyện của phó đạo diễn Minh Vượng. Với khó khăn về hình thức, Minh Vượng dự định tìm một chân trời mới: công tác phó đạo diễn. Minh Vượng là bạn của vợ tôi (diễn viên Ngọc Bích), là người rất chu đáo. Trong khi tôi còn phân vân, hồ nghi thì Vượng dẫn tôi đến gặp một ông thầy cao kiến xem ngày lành để bấm máy thuận lợi, rồi sắm sửa lễ vật làm lễ khi quay ở thánh địa La Vang. Nhưng nhiều khi tôi đối với Vượng lại chưa chu đáo. Chuyện xương xẩu, khó chịu, tôi đều trút hết lên cô ấy. Lúc đầu Minh Vượng rất ngạc nhiên, rồi… cũng hiểu. Đi làm phim có thể tìm được bạn hiền lẫn bạn không tốt và biết được năng lực của mỗi người. Sau mỗi bộ phim có thể có thêm bạn và có cả thêm thù. Đạo diễn khi làm phim thường duy ý chí, độc tài vì hiệu quả công việc, dễ dẫn đến chà đạp lên các mối quan hệ thông thường. Có người tình cảm, có người không, nên 3 – 4 năm sau mới nói chuyện với nhau. Nhưng không thể cả nể, bởi cả nể là tan. Tất cả những cộng sự của Cỏ lau, đều thành cộng sự lâu dài của tôi. Minh Vượng, sau Cỏ lau cũng từ giã luôn nghề phó đạo diễn. Có lẽ cô ấy cảm thấy đánh đu với điện ảnh quá vất vả, nên đã tìm con đường đi riêng: diễn hài.
Những người vào vai cỏ
Cỏ lau là chuyện về mối liên hệ giữa Lực – Thai – Quảng trên mảnh đất Quảng Trị cằn cỗi. Lực (Đươn Dương) kết hôn với Thai (Thương Huyền – Minh Châu), rồi vội vã ra đi trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Sau trận chiếc ác liệt tại thành cổ Quảng Trị, Lực mất tích. Bao năm chờ đợi mỏi mòn, Thai đành đi bước nữa với Quảng (Hồng Sơn) – bạn cũ của hai người. Lực trở về thì người cũ đã vui duyên mới. Thai bị giằng xé giữa hai người đàn ông đều tốt đẹp, đều yêu chị rất thắm thiết. Đó là nhát cắt chiến tranh dày vò họ… Nhà văn Nguyễn Minh Châu viết Cỏ lau dựa trên hồi ký của phó chính ủy Trung đoàn 48 – trung đoàn chủ chốt suýt bị xóa sổ mấy lần, nên chuyện gần với sự thật. Tôi chọn Đơn Dương cho vai Lực bởi từng biết anh qua một số vai diễn trước đó với diễn xuất chững chạc, Đơn Dương là diễn viên miền Nam duy nhất được đạo diễn miền Bắc ưa chuộng vì thể hiện nội tâm khá sâu sắc. Gặp nhau ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi hơi e ngại vì Đơn Dương hơi béo, nên yêu cầu trong vòng 20 ngày phải giảm bớt cân cho người săn chắc, mặt nhỏ lại đúng chất sĩ quan mặt trận. Thật bất ngờ, gặp lại tại Quảng Trị, Đơn Dương đã ngót đi 7kg, sắt người lại. Đơn Dương kể, anh rất thích vai này, nên mỗi buổi sáng phải chạy bộ, uống cà phê, không dám uống bia, sợ phì. Mặc dù có nhiều cảnh quay cực nhọc, vất vả nhưng Đơn Dương rất nghiêm túc, không hề phàn nàn. Thời tiết Quảng Trị rất khắc nghiệt, nắng chang chang, nóng hầm hập. Lại phải quay ở địa điểm xa, đi đi về về trong ngày tới 50 – 60km. Khỏe mạnh, cường tráng như Đơn Dương, nhưng cũng ốm lên ốm xuống… Minh Châu là diễn viên có đẳng cấp, hết sức vì nghề. Tôi thân với Minh Châu cũng từ phim này. Năm ấy, Minh Châu gần 40 tuổi, dự định đóng trọn vẹn cả vai từ trẻ đến trung niên. Nhưng khi gặp Trương Thương Huyền – diễn viên Đoàn nghệ thuật Quảng Trị, tôi nảy sinh ý định mời Huyền đóng vai Thai lúc trẻ vì cô bé khá giống Minh Châu – cũng mắt to sáng, trán dô bướng bỉnh. Nhưng băn khoăn e Huyền diễn không đạt, nên vẫn hóa trang cho Minh Châu. Nếu hóa trang cho Minh Châu trẻ lại gần 20 tuổi mà trẻ trung, thì sẽ để Minh Châu đóng cả hai giai đoạn. Gương mặt Minh Châu sau khi hóa trang tươi trẻ như con gái, nhưng bằng sự nhạy cảm nghề nghiệp, Minh Châu biết đó là sự cố gắng cơ học. Tôi nói với Minh Châu: nếu Huyền làm được thì Châu để cho Huyền làm, còn ngược lại thì Châu giúp mình. Khi thấy Thương Huyền đảm nhận tốt, Minh Châu lặng lẽ rút lui, để đạo diễn làm việc không lấn bấn. Đó là cách xử sự đàn chị, cao thượng – điều này thật hiếm thấy. Khi ấy Minh Châu là nghệ sĩ ưu tú, hai lần đạt giải Nữ diễn viên xuất sắc, từng làm việc với nhiều đạo diễn nổi tiếng. Còn tôi lúc đó mới chỉ là anh đạo diễn mới toanh, bắt đầu chật vật với bộ phim đầu tay của mình, nên rất xúc động khi được người khác tạo điều kiện cho mình làm việc.
Cỏ lau và Ngọn đuốc vàng
Không chỉ tôi mà cả lãnh đạo Cục Điện ảnh, Hãng phim truyện Việt Nam, các nghệ sĩ khác hoàn toàn bất ngờ khi Cỏ lau nhận giải Ngọn đuốc vàng – phim hay nhất – Liên hoan phim quốc tế các nước không liên kết – Bình Nhưỡng – Triều Tiên năm 1993. Cảm giác khoái chí cực điểm ùa đến trong vòng vài đêm khiến tôi mất ngủ. Nhờ Cỏ lau tôi có vị trí mới mẻ, được lên lương mấy bậc, được lên chức trưởng xưởng phim. Về tâm linh có lẽ tình cảm trong sáng, sự thành tâm của chúng tôi là điểm tựa, gần như hòa nhập thế giới rộng lớn của bao vong linh liệt sĩ đã ngã xuống.
Tôi nhớ nhất là 2 bài viết về Cỏ lau khi phim chưa giành được giải thưởng nào. Một bài viết rằng Vương Đức nên xem lại mình vì Cỏ lau xám xịt quá, “tồi tệ không có gì tồi tệ hơn”. Tôi nghĩ có lẽ mình vớ vẩn thật nếu làm phim bị người ta chê vậy, và thực sự như thế thì có lẽ phải chuyển nghề. Nhưng mấy tháng sau lại có bài Sự kết thúc của Nguyễn Minh Châu lại là triển vọng của đạo diễn Vương Đức đăng trên báo Lao Động rất ca ngợi. Giống như bài chê, bài khen này cũng buộc tôi phải suy nghĩ, bởi một câu: “Nếu Vương Đức coi Cỏ lau là một nhân vật như những nhân vật khác trong phim thì phim còn được đẩy lên tầm cao hơn nữa”. Bài viết khiến tôi nhìn lại mình, thấy còn có một số khiếm khuyết. Tôi nhớ đến 2 tác giả bài viết ấy và chúng có ảnh hưởng đến tôi. Những phim sau này tôi đều chờ đợi bài phê bình của những nhà phê bình điện ảnh chuyên nghiệp, chứ không phải bài phê bình của nhà báo, nhà phê bình văn học, nhưng hiếm thấy Cỏ lau gây xúc động lớn cho khán giả - nhất là bộ đội vì đề tài phim đề cập đến mang tính đặc thù của Việt Nam – hầu như gia đình nào cũng có người đi lính và hy sinh. Khán giả các quốc gia khác hình như cũng dễ dàng cảm thông vì phim đề cập tới vấn đề MIA (liệt sĩ mất tích) của Việt Nam. Cùng với Cỏ lau, tôi được tham dự khá nhiều Liên hoan phim ở nước ngoài: Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ. Phim được chiếu giới thiệu nhiều nước trên thế giới.
16/09/2016 , Phạm Bắc Cường – Thế Giới Điện Ảnh – Năm 2003

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *